Có một mùa thu chưa bao giờ cũ
Có những mùa đi qua đời người như một cơn gió thoảng. Có những mùa ở lại mãi trong hồn người như một nốt nhạc ngân dài. Mùa thu thuộc về loại thứ hai.
Người Việt chúng ta biết đến thu từ những buổi sáng se lạnh đầu tiên. Đó là lúc sương giăng mỏng trên mặt ao, khi trời bỗng cao hơn, xanh hơn và trong hơn như vừa được ai gột rửa. Đó là lúc gió heo may thổi qua thềm cũ, mang theo mùi hoa sữa đầu phố, mùi cốm non và mùi của một nỗi nhớ chẳng biết gọi tên. Lá vàng chưa kịp rụng nhưng lòng người đã biết nao nao. Thu đến nhẹ như một lời thì thầm mà thấm sâu như một nỗi niềm.
Với thi ca, mùa thu là tri âm với thi sĩ nhiều thế kỷ. Từ thơ Nôm của Nguyễn Trãi đến ao thu của Nguyễn Khuyến, từ tiếng thu của các nhà Thơ mới đến những vần thơ hào sảng của thời đại cách mạng, thu vẫn về đúng hẹn trong thơ như đất trời đổi mùa. Mỗi lần về, thu lại khoác một tấm áo khác: khi là màu xanh lơ lửng của ao làng, khi là tà áo lãng mạn của tuổi trẻ và ái tình, khi lại là màu cờ đỏ sao vàng bừng lên giữa quảng trường ngày Quốc khánh.
Mùa thu trong thi ca đẹp không chỉ bởi những rung cảm của thi sĩ trước khoảnh khắc giao thoa đất trời. Nó còn đẹp hơn vì đã trở thành hình tượng kết nối cá nhân với ký ức cộng đồng, gắn với những dấu mốc quan trọng của dân tộc. Đọc thơ thu, ta không chỉ nghe tiếng lòng của một người mà còn nghe nhịp đập của cả một dân tộc.
Vì sao thi nhân yêu mùa thu?
Đất trời một năm có bốn mùa, và mùa nào cũng có thơ. Nhưng xuân và thu là hai mùa được thi nhân nhắc đến nhiều hơn cả.
Xuân là tuổi trẻ, là mầm biếc, là cảm hứng hướng về tương lai. Xuân sáng bừng và rộn ràng như một tiếng cười. Thu thì khác. Thu dịu ngọt, đằm lắng, dễ gợi những bâng khuâng, lưu luyến, những suy tư về thời gian, về kiếp người, về cái đến và cái đi. Nếu xuân là tiếng reo thì thu là tiếng thở dài rất khẽ, một tiếng thở dài không buồn bã mà chỉ dịu dàng như hơi thở của người đã từng trải.
Có lẽ vì thế mà thu gần với thơ đến vậy. Thơ vốn sinh ra từ những khoảnh khắc lòng người chùng xuống để lắng nghe chính mình. Khi lá bắt đầu rụng, trời bắt đầu se, ánh nắng bắt đầu nhạt màu, con người bỗng thấy mình nhỏ bé giữa vũ trụ mà cũng bỗng thấy mình sâu hơn. Thu là mùa của những điều chưa nói hết. Mà thơ ca thì chính là nghệ thuật của điều chưa nói hết.
Nhưng thu trong thơ Việt Nam còn có một điều riêng: thơ ca không chỉ là tiếng nói của thiên nhiên mà còn là tiếng nói của lịch sử, của đời riêng mỗi con người. Với dân tộc ta, mùa thu còn là mùa của những cột mốc. Vì thế, thu trong thơ Việt vừa mang nét trầm lắng muôn đời của thu thế giới, vừa mang sắc thái hùng tráng chỉ có ở mảnh đất này.
Khúc dạo đầu: Thu của người xưa
Trước khi bước vào "hiện đại", ta hãy dừng chân một chút nơi cội nguồn, bởi mùa thu hiện đại chưa bao giờ mọc lên từ hư không.
Thơ ca trung đại nằm trong quan niệm "thi dĩ ngôn chí", nghĩa là thơ để nói chí hướng.
Nhưng điều ấy không ngăn được các bậc thi nhân bày tỏ tình yêu với thiên nhiên mùa thu.
Nguyễn Trãi, trong tập thơ Nôm Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình), đã để lại những vần thơ thu thanh thoát, lạnh mà không lạnh lẽo. Đó là hình ảnh người ở ẩn, xa lánh chốn công danh bon chen, sống giữa mây, tuyết, trăng, thuyền. Trong phần Môn thời lệnh, ông còn có Thu nguyệt tuyệt cú đặt cạnh những bài về xuân, về hạ, như một cách thi nhân ngầm nói rằng bốn mùa đều đáng yêu nhưng thu có nét trăng trong riêng của nó.
Rồi đến Nguyễn Khuyến, vị Tam nguyên Yên Đổ. Chùm thơ thu của ông gồm Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm đã trở thành một cột mốc không thể thiếu trong ký ức văn chương của nhiều thế hệ học trò Việt Nam. Ta còn nhớ cái ao thu "lạnh lẽo nước trong veo", chiếc thuyền câu bé tẻo teo, làn sóng biếc khẽ gợn theo hơi gió, và cả bầu trời xanh ngắt mà tĩnh lặng đến mức nghe được cả tiếng lòng. Mùa thu ấy là thu của làng quê Bắc Bộ, êm đềm, thơ mộng, có phần vắng lặng như cõi lòng u tịch của thi nhân trong những ngày ưu thời mẫn thế.

Ảnh 1 – Cảnh thu và tư thế thi nhân trong bài “Thu điếu” (Nguyễn Khuyến) – Theo Internet
Chính nhờ những nét vẽ đầu tiên ấy mà các thế hệ sau mới có nền để tô thêm những mảng màu mới. Thu của người xưa như một khúc dạo đầu êm ái, để rồi giai điệu mùa thu bước sang những cung bậc khác, sôi nổi hơn, cuộn xoáy hơn và rộng lớn hơn.
Thu Hà Nội: Nơi mùa thu có một trái tim
Thơ viết về mùa thu Hà Nội mang giọng điệu đa dạng khi người cầm bút hướng cảm xúc về đô thành ngàn năm thương nhớ. Ở đó, bầu trời xanh như ngọc. Mặt hồ lăn tăn gợn sóng.
Nắng vàng mỏng như lụa. Gió thu mơn man đi qua hàng sấu, hàng bàng bắt đầu rụng lá.
Một chút lãng mạn dịu ngọt, một chút hào hoa, một chút thẳm sâu quấn quyện, phảng phất trong từng làn gió. Thảng thốt trước vẻ đẹp nơi đây, Tô Như Châu viết “Có phải em, mùa thu Hà Nội?” Bài thơ ngân lên như một khúc tình ca tha thiết dành cho mùa thu Hà Nội, nơi vẻ đẹp của đất trời hòa quyện với ký ức, tình yêu và hồn thiêng sông núi. Hình ảnh lá vàng, hương cốm, Hồ Tây, sông Hồng, Cổ Ngư hiện lên vừa gần gũi vừa mơ mộng, trong khi bóng dáng Trưng Vương, Quang Trung, Điện Biên… làm mùa thu mang chiều sâu lịch sử.
Đặc biệt, điệp khúc “Có phải em mùa thu Hà Nội” khiến mùa thu hóa thành một người tình tri kỉ, để nỗi nhớ quê hương ngân vang thành niềm tự hào dân tộc.
Chẳng trách biết bao bài thơ, bài hát hay viết về Hà Nội đều nói đến mùa thu. Ca từ Trịnh Công Sơn vẽ mùa thu Hà Nội bằng những nét chấm phá thân thuộc: cây cơm nguội vàng, bàng lá đỏ, phố cổ trầm mặc; qua đó đánh thức một tình yêu Hà Nội dịu dàng, sâu lắng.

Ảnh 2 – Mùa thu Hà Nội mang đặc trưng thu xứ Bắc Theo Internet
Khi mùa thu gặp gỡ với cách mạng: Một cuộc giao duyên kỳ diệu
Có một khoảnh khắc mà lịch sử và đất trời như đã hẹn nhau từ trước. Khoảnh khắc ấy là mùa thu năm 1945. Cách mạng đã đem đến cho mùa thu chất hùng tráng, bừng bừng náo nức. Ngược lại, mùa thu cũng mang đến cho cách mạng chất trữ tình, vẻ mát tươi và dịu dàng. Một bên là sức mạnh của thời đại. Một bên là vẻ đẹp muôn đời của thiên nhiên. Hai thứ ấy gặp nhau và hòa vào nhau, tạo nên những "mùa thu cách mạng" khó quên trong thi ca.
Tố Hữu và cơn say của “Huế tháng Tám”
Khí thế Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hừng hực khắp nơi đã làm nên một nhịp điệu thơ cuốn hút, sôi trào và bay bổng lạ thường. Hiếm có bài thơ nào ồn ào, say mê đến mức mệt lả như Huế tháng Tám của Tố Hữu. Đọc bài thơ ấy, ta như thấy một chàng trai trẻ chạy khắp nhà, reo hò, cười nói huyên thuyên, không ai cấm được niềm say. Đó là cơn say của kẻ đã bốn nghìn năm chờ đợi, giờ được thấy lồng ngực mình căng phồng trước cơn gió lớn của thời đại. Trái tim ấy như hóa thành mặt trời.
Ở đó, thu không còn là mùa của những nỗi buồn se sắt. Thu là mùa của tiếng reo, của bước chân chạy, của những vòng tay ôm nhau giữa đường. Chất trữ tình vẫn còn đó, nhưng đã được nhân lên bằng hơi thở của cả một dân tộc vừa đứng dậy.
Xuân Diệu và "Ngọn quốc kỳ": Một cuộc đổi hướng của trái tim
Nếu Tố Hữu là tiếng hát của một người sinh ra để làm thi sĩ cách mạng, thì Xuân Diệu lại là một trường hợp khiến ta xúc động hơn nữa. Ông vốn là thi sĩ lãng mạn hàng đầu của phong trào Thơ mới. Ông từng say đắm tuổi trẻ và ái tình đến cuồng nhiệt, từng viết Đây mùa thu tới với những nét vẽ thu dịu dàng, bâng khuâng, thanh mảnh như bức họa thủy mặc. Nhưng khi cách mạng thành công, cơn say ấy đổi hướng. Nhà thơ giờ say độc lập, say cuộc đời mới dưới cờ đỏ sao vàng.
Trong Ngọn quốc kỳ, ta bắt gặp tiếng gọi tên tha thiết của Tổ quốc, những lồng ngực được hít thở không khí ngày độc lập, một sức mạnh mới dâng lên từ bốn phương, và nếp cờ bay hòa với sóng của bài ca. Đó là hình ảnh của một tâm hồn thi sĩ vừa tìm thấy điều lớn lao để yêu. Mùa thu ở đây không còn của riêng nhà thơ mà là của cả dân tộc.
"Theo chân Bác" và ngày thu lịch sử trên Quảng trường Ba Đình
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Đó là một trong những trang vẻ vang bậc nhất của đất nước, đã và sẽ mãi mãi lay động tâm hồn người Việt.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà khi viết trường ca Theo chân Bác (1970), Tố Hữu đã dành nhiều khổ thơ để làm sống dậy ngày thu ấy. Trong mắt thi sĩ, bầu trời như xanh hơn, nắng như chói lòa hơn, và trong giây phút thiêng liêng ấy, người nhìn Bác, Bác nhìn người, bốn phương như cùng đang dõi theo. Những vần thơ ấy đã ghi lại khoảnh khắc chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm và ngót một thế kỷ nô lệ tăm tối dưới ách thực dân. Đó là cuộc tái sinh màu nhiệm của một dân tộc: hạnh phúc nào hơn được sống lại, được gọi tên mình lần nữa. Cũng chính cuộc tái sinh ấy đã làm cho mùa thu mang thêm vẻ đẹp và sự trẻ trung căng tràn sức sống.

Ảnh 3 – Quảng trường Ba Đình, nơi ghi dấu thời khắc Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, vẫn toả nắng mùa thu (Theo Internet)
Thu chiến thắng, trở về Thủ đô
Mùa thu trong thơ ca cách mạng còn gắn liền với niềm vui của những con người lao động từ nay được làm chủ đất nước mình. Đặc biệt là trong thơ Tố Hữu, cảm xúc thu luôn hòa với niềm vui ấy.
"Ta đi tới": Con đường đón ta trở lại Thủ đô
Mùa thu năm ấy (1954), từ năm cửa ô, bộ đội ta tiến vào tiếp quản Thủ đô. Hà Nội rợp cờ hoa chiến thắng. Đất nước được giải phóng, lại được độc lập, tự do. Bài thơ dài Ta đi tới mở đầu bằng hình ảnh con người ung dung bước đi giữa ban ngày trên đường cái. Chỉ ai đã từng nếm trải những năm tháng kháng chiến gian khổ mới hiểu vì sao lời mở đầu ấy vừa giản dị lại vừa xúc động đến thế. Đi giữa ban ngày, trên con đường lớn, không còn phải nép mình trong bóng tối, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của một dân tộc từng phải sống lén lút trong chính quê hương mình.
Ta đi tới là một khúc ca rộn rã, dọc ngang bát ngát với những con đường qua các câu thơ như chào mời, như hối hả. Có ai qua, ai xuôi, ai về, ai xuống, ai vào. Nhịp thơ như những bước chân đang đổ về Thủ đô. Trong bài thơ, cảm hứng trước vẻ đẹp thiên nhiên mùa thu hòa cùng niềm tự hào về sức mạnh dân tộc trên dặm dài lịch sử: chín năm kháng chiến, ba nghìn ngày không nghỉ.
Một câu thơ như một bức tranh: “Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ”
Cũng trong dòng cảm xúc ấy, Tố Hữu đã ghi lại một hình ảnh đầy chất thơ về vinh quang chiến thắng của dân tộc. Bóng thù tan tác, trời thu tháng Tám sáng lại, trên đường về lại Thủ đô, lá cờ đỏ bay quanh mái tóc bạc của Bác Hồ.
Thật khó viết được câu thơ ấy nếu không từng sống trong những ngày mừng vui chiến thắng, nếu không từng đi trên con đường về lại Thủ đô rực thắm cờ hoa. Câu thơ giàu tính tạo hình, như một bức tranh sơn mài: sắc đỏ của cờ, sắc bạc của tóc, và nền trời thu xanh thăm thẳm đằng sau. Chỉ một dòng thơ mà chứa đựng cả một thời đại. Nó vừa cụ thể như một khoảnh khắc chụp lại, vừa lớn lao như một biểu tượng.
Nguyễn Đình Thi và "Đất nước": Thu nay khác rồi
Trong dòng thơ thu cách mạng, không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Thi. Bài thơ Đất nước của ông, viết trong những năm kháng chiến, mở ra một mùa thu rất riêng: mùa thu của một người đứng giữa núi đồi, nghe lòng mình rộn vui khi nhận ra thu nay đã khác. Trời xanh đây là của chúng ta, núi rừng đây là của chúng ta. Cái "của chúng ta" ấy lặp đi lặp lại như một điệp khúc, mỗi lần vang lên lại thấm thêm niềm tự hào.
Nếu thu xưa là mùa của nỗi buồn se sắt và nhớ thương, thì thu trong Đất nước là mùa của niềm vui phơi phới. Trời thu xanh thắm, đất nước rộng lớn, đẹp giàu từ nay thuộc về nhân dân. Bài thơ có thể xem như một lời khẳng định lặng lẽ mà kiêu hãnh: mùa thu vẫn là mùa thu ấy, nhưng người ngắm thu đã là người làm chủ.
"Mùa thu mới": Lãng mạn cách mạng trong những ngày xây dựng
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đất nước bắt tay vào khôi phục và cải tạo kinh tế, xây dựng cuộc sống mới. Mấy mùa thu sau đó, nhìn lại những thành quả đầu tiên, Tố Hữu viết Mùa thu mới (1958). Gian khó còn nhiều, nhưng cuộc đời mới đã đơm hoa kết trái nhờ trái tim, khối óc, bàn tay của bao người lao động cần cù, dũng cảm.
Bài thơ nồng nàn cảm hứng lãng mạn cách mạng khi ngợi ca những con người có đôi cánh tay như hai cánh bay lên. Đó là một hình ảnh đẹp và táo bạo: đôi tay lao động không còn chỉ để cày, để cuốc, để gánh, mà đã mang sức bay của niềm tin và khát vọng. Mùa thu ở đây không chỉ nhìn lại quá khứ mà còn nhìn về phía trước với niềm lạc quan trong trẻo.

Ảnh 4 – Hoa cúc, loài hoa của mùa thu (Theo Internet)
Vẻ đẹp mùa thu – thơ thu riêng chỉ có ở Việt Nam
Mùa thu của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền trên thế giới đều có vẻ đẹp riêng. Bầu trời xanh trong, xanh thắm, làn mây trắng nhởn nhơ, mặt hồ nhè nhẹ sóng, những điều ấy nhiều nơi trên thế giới cũng có. Bạn có thể ngẩng đầu mê mải ngắm bầu trời thu ở bất cứ đâu và vẫn thấy mình rung động.
Nhưng có những điều chỉ ở đất Việt mới có. Đó là mùa thu vàng nắng Ba Đình. Đó là lá cờ đỏ bay quanh mái tóc bạc Bác Hồ. Đó là gió thu lướt dài mơn man mặt Hồ Tây. Đó là mảnh trăng thu lẻ bóng trên cành sấu già đầu phố. Những hình ảnh ấy không thể tìm thấy ở nơi nào khác, bởi chúng không chỉ là cảnh mà còn là ký ức, không chỉ là sắc trời mà còn là lịch sử, không chỉ là thiên nhiên mà còn là tâm hồn dân tộc.
Đó chính là điều làm nên sự đặc biệt của thu trong thi ca Việt Nam. Ở đây, cái đẹp của thiên nhiên và cái đẹp của lịch sử đã hòa thành một. Thi sĩ nhìn một chiếc lá vàng mà thấy cả một thời đại. Người đọc nghe một câu thơ thu mà nhớ đến những bước chân đã đi qua chiến tranh, đi qua gian khổ, đi về phía tự do.
Có lẽ câu hỏi cuối cùng ta cần đặt ra là: vì sao trải qua bao thăng trầm, mùa thu trong thơ vẫn không cũ?
Thứ nhất, bởi thu là mùa của sự giao thoa, giữa nóng và lạnh, giữa còn và mất, giữa vui và buồn. Chính trạng thái "giữa chừng" ấy làm nên chiều sâu cho cảm xúc, cho phép mỗi thi nhân gửi vào đó một tâm sự riêng. Người xưa gửi vào thu nỗi lòng ẩn sĩ. Người lãng mạn gửi vào thu nỗi bâng khuâng tuổi trẻ. Người chiến sĩ gửi vào thu niềm tự hào chiến thắng.
Cùng một mùa mà bao nhiêu tâm trạng, bấy nhiêu sắc thu.
Thứ hai, bởi thu trong thơ Việt luôn có khả năng nối liền cá nhân với cộng đồng. Một bài thơ thu có thể bắt đầu từ chiếc lá rơi trước hiên nhà nhưng lại kết thúc bằng niềm xúc động về vận mệnh dân tộc. Người đọc không thấy đó là sự gượng ép, bởi trong tâm thức Việt Nam, mùa thu vốn đã gắn với những dấu mốc thiêng liêng.
Thứ ba, và có lẽ quan trọng nhất, bởi thu là mùa của lòng biết ơn. Như PGS Lê Quang Hưng đã gửi gắm: chúng ta biết ơn mùa thu đã đem đến cho thơ ca một nguồn cảm hứng bất tận, dồi dào, và biết ơn cách mạng đã đem tới cho mùa thu một vẻ đẹp riêng, một chất thơ đặc biệt. Lời tri ân ấy vừa dành cho thiên nhiên vừa dành cho lịch sử. Nó nhắc ta rằng cái đẹp không tự nhiên mà có. Cái đẹp của mùa thu hôm nay đã được nuôi lớn bằng máu, mồ hôi và nước mắt của bao thế hệ đi trước.
Thay lời kết
Gấp lại những trang thơ, tôi bỗng nghĩ mùa thu giống như một chi lưu trên dòng sông lớn của văn học Việt Nam. Bắt nguồn từ những vần thơ Nôm thanh đạm của Nguyễn Trãi, chảy qua mặt ao trong veo của Nguyễn Khuyến, len lỏi vào thế giới tâm hồn bâng khuâng của Xuân Diệu rồi cuồn cuộn, hùng tráng trong Huế tháng Tám, Ngọn quốc kỳ, Theo chân Bác, Ta đi tới, Đất nước, Mùa thu mới… Dòng sông ấy chưa bao giờ cạn, bởi ngọn nguồn của nó là tình yêu đất nước, yêu thiên nhiên, yêu con người.
Và mỗi độ thu về, khi bầu trời chợt cao và trong, khi gió heo may chạm nhẹ vào vai áo, khi hoa sữa bắt đầu tỏa hương trên những con phố quen, ta thử dừng lại một chút, ngẩng đầu nhìn trời thu. Biết đâu, ta sẽ nghe trong lòng mình vọng lại những trang thơ còn mãi với thời gian.
Tin bài: TS. Nguyễn Đức Toàn, Khoa Ngữ văn và Khoa học Xã hội, trường Đại học Hải Dương
