TS. Nguyễn Thị Thanh Hoa
ThS. Trần Việt Dũng
ThS. Nguyễn Thị Thảm
Lê Quý Đôn (1726 - 1784) không chỉ là một đỉnh cao chói lọi trong lịch sử học thuật Việt Nam, mà còn là một trong những nhà bác học kiệt xuất nhất của toàn khu vực Đông Á thế kỷ XVIII. Hướng tới cột mốc lịch sử kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông (02/08/1726 - 02/08/2026), đây không chỉ là dịp để toàn dân tộc bày tỏ lòng tri ân sâu sắc, mà còn là cơ hội lớn để nhìn lại, kế thừa và phát huy kho tàng di sản tư tưởng vượt thời gian mà ông để lại cho hậu thế.
1. Ngôi sao thần đồng của Việt Nam, tinh thần tự học và khát vọng cống hiến
Lê Quý Đôn sinh năm 1726, quê ở làng Diên Hà, trấn Sơn Nam. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống học hành và sớm bộc lộ tư chất thông minh, khả năng ghi nhớ đặc biệt cùng tinh thần ham học hỏi. Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là người học rộng, hiểu sâu, có ý thức tìm tòi và luôn khát khao mở mang tri thức.
Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn nổi tiếng là thần đồng, lúc hai tuổi đã đọc được chữ Hữu và chữ Vô, lên 5 tuổi đọc được một số bài trong Kinh Thi của Khổng Tử, mười tuổi học Kinh Dịch, học thuyết luận giả về vũ trụ của người phương Bắc, đến năm mười bốn tuổi đã học hết các sách của người phương Nam, đọc Tứ thư, Ngũ kinh và Chư tử - những cuốn sách nổi tiếng của người phương Bắc.
Ngay từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, ham học, có trí nhớ hiếm có và khả năng ứng khẩu thơ văn. Chính những phẩm chất ấy đã trở thành nền tảng cho nhiều giai thoại về tài năng của ông được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tương truyền, khi còn nhỏ, Lê Quý Đôn từng xem qua cuốn sổ ghi nợ của một bà cụ bán nước. Ít lâu sau, quán nước bị hỏa hoạn, cuốn sổ cũng cháy theo. Trước sự lo lắng của bà cụ, cậu bé đã nhớ lại gần như đầy đủ tên những người còn nợ cùng các khoản ghi trong sổ để chép lại. Khi đối chiếu, các khoản ghi đều không sai lệch.
Còn sử sách chép Lê Quý Đôn nổi tiếng thần đồng, nhà sử học lỗi lạc Phan Huy Chú viết về ông trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: “Năm lên 2 tuổi đã biết hai chữ “chi, vô”, thử hàng trăm lần cũng không sai. Năm lên năm tuổi ông học Kinh Thi, đọc được 10 dòng một lúc, chữ nào ngờ không bao giờ phải hỏi một lần nữa. Năm 12 tuổi ông học khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia, chư tử, không sách nào là không thông suốt. Văn ông rộng rãi, tao nhã, sâu sắc, cầm bút là xong ngay” [1; 465] . Lời đánh giá của sử gia Phan Huy Chú đã khái quát thiên tư xuất chúng, nước Việt Nam ta thật tự hào có người tài năng hiếm có như vậy.
Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng. Cha ông là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ, từng giữ chức Hình bộ Thượng thư, một vị quan nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Con đường khoa bảng của ông đạt đến đỉnh cao với việc đỗ đầu cả ba kỳ thi: Đỗ Giải nguyên (kỳ thi Hương), đỗ Hội nguyên (kỳ thi Hội) và đỗ Bảng nhãn (kỳ thi Đình, triều đình không lấy Trạng nguyên).
Năm Cảnh Hương thứ 13 (1752), ông đi thi Hội, đỗ đầu, vào thi Đình cũng đỗ đầu (Tam nguyên), trúng Bảng nhãn, nổi tiếng của nền khoa cử Việt Nam thời phong kiến. Bắt đầu từ đây, ông bước vào con đường làm quan, lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều Lê - Trịnh, từ Hàn lâm viện, Quốc Sử quán đến các chức vụ quan trọng ở trung ương và địa phương.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) sinh trưởng và làm quan trong thế kỷ XVIII, một giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và biến động dữ dội nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây là thời kỳ đất nước bị chia cắt thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài, nơi triều đình vua Lê chỉ còn là bù nhìn, mọi quyền lực tập trung vào phủ chúa Trịnh suy thoái và tham nhũng. Sự bóc lột nặng nề khiến đời sống nhân dân kiệt quệ, làm bùng nổ hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn ở phía Bắc và phong trào Tây Sơn ở phía Nam. Chính bối cảnh “vạn biến” này đã nhào nặn nên một vĩ nhân có tư duy thực tiễn vượt thời đại, thúc đẩy ông hình thành tư tưởng lấy dân làm gốc và khát vọng cải cách bách khoa toàn diện. Những biến động lịch sử và các chuyến đi kinh lý, đi sứ đã trở thành chất liệu thực tế quý giá, giúp ông quan sát tỉ mỉ để viết nên những tác phẩm bách khoa thư đồ sộ như Phủ biên tạp lục hay Vân đài loại ngữ, để lại di sản tri thức khổng lồ cho dân tộc.
Vì thế ông luôn học hỏi để phụng sự nhân dân. Đối với ông, học tập là một quá trình bền bỉ, lâu dài, đòi hỏi sự chuyên cần, khiêm tốn và không ngừng tìm tòi. Người học không nên bằng lòng với những điều đã biết mà phải luôn mở rộng hiểu biết, chủ động đặt câu hỏi và khám phá những vấn đề mới, đề cao thực học. Ông luôn coi trọng việc khảo sát thực tế, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu, phân tích và kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Phương pháp nghiên cứu nghiêm cẩn đó đã tạo nên giá trị khoa học bền vững cho các trước tác của ông và để lại nhiều bài học quý báu về tinh thần nghiên cứu khách quan, trung thực và sáng tạo.
Điều này đã được chứng minh rõ ràng. Lê Quý Đôn sinh ra ở vùng đất Thái Bình, nơi không có núi non, chỉ có những cánh đồng lúa rộng mênh mông. Lớn lên, ông đi khắp đất Việt thấy non sông kì vĩ, muôn màu với những dòng sông chở nặng phù sa bồi đắp nên những cánh đồng màu mỡ. Vì thế, ông say mê với các giống lúa, các loại cây, đất đai, thuỷ hải sản, cách trồng trọt và trị thuỷ… Ông đã ghi chép được 201 giống lúa, trong đó có 9 giống lúa chiêm, 23 giống lúa mùa, 29 giống lúa nếp. Ngoài lúa, Lê Quý Đôn còn ghi chép hàng trăm giống cây ăn quả mà mỗi giống lại có nhiều loại khác nhau như giống chuối có: chuối lùn, chuối tiêu, chuối tay bụt, chuối lá cây, chuối tai mèo, chuối hột, chuối rừng… Cam cũng có nhiều loại như cam sen, cam chanh, cam mật, cam sành, cam giấy, cam động đình…
Riêng bộ sách Vân đài loại ngữ, ông tham khảo tới 557 cuốn sách, hoàn thành trong ba năm. Đối với Lê Quý Đôn, được đóng cửa ở nhà viết sách là một niềm vui, không sách gì không đọc, không có vật gì không suy xét tới tận cùng. Ông cho rằng trong bụng mình phải có ba vạn cuốn sách, trong mắt mình phải có hình của đất nước, thế mới viết nên những trang đời đẹp đẽ. Cũng trong tác phẩm này, ông bàn luận sâu sắc về đạo trị nước, yêu cầu người làm quan phải hiểu nỗi khổ của nông dân, không được hạch sách hay bóc lột của cải.
Đến năm 1765, sau khi cáo quan trở về quê, ông tiếp tục chuyên tâm trước tác, với tinh thần “đóng cửa làm sách”, để lại một di sản học thuật đồ sộ. Tấm gương say mê nghiên cứu, ý thức tích lũy tri thức và cống hiến không ngừng của Lê Quý Đôn là nguồn cảm hứng quý báu đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học ngày nay trong sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Lê Quý Đôn là một học giả rất uyên bác. Ông không chỉ đi sâu trong lĩnh vực nông học mà thông thạo trong hầu hết các lĩnh vực khác như lịch sử, địa lí, thơ, văn, triết học, y học… Lê Quý Đôn đã tổng hợp tất cả những tri thức của người Việt trong thế kỉ XVIII. Nước Việt ta trong vòng vài trăm năm nay mới xuất hiện một kì tài như thế. Người phương Bắc cho rằng, nhân tài như Lê Quý Đôn nước họ cũng ít có. Ngay từ thuở nhỏ, Lê Quý Đôn đã bộc lộ tư chất thông minh thiên bẩm cùng một trí nhớ phi thường.
Sau khi nhà bác học Lê Quý Đôn qua đời, các học trò và con cháu của ông đã thu thập, biên soạn lại các tác phẩm thơ văn của ông để khắc in. Với tư cách là học trò xuất sắc nhất, Bùi Huy Bích đã trân trọng viết lời đề tựa để bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khẳng định vị thế lịch sử độc tôn của thầy mình. Trong phần bài tựa (lời tựa) do Tiến sĩ Bùi Huy Bích viết cho tập thơ “Quế Đường thi tập”, ông từng ca ngợi thầy mình:
“Bậc thông minh nhất đời, đọc rộng sách vở, có thể viết những công trình văn học truyền đời; ở nước ta vài trăm năm mới có một người như thầy”.
2. Một di sản học thuật đồ sộ, phong phú và có giá trị lâu dài, tư duy khoa học vượt tầm thời đại
Điều làm nên vị thế đặc biệt của Lê Quý Đôn trong lịch sử không chỉ nằm ở sự nghiệp làm quan mà trước hết ở sự nghiệp học thuật “trước tác rất đồ sộ gồm nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn thuộc nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong số đó không ít tác phẩm đã trở thành tinh hoa của nền học thuật thời cổ của đất nước” [5; 1249].
Trong suốt cuộc đời nghiên cứu và hoạt động của mình, Lê Quý Đôn đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Các công trình của ông không chỉ phong phú về nội dung mà còn thể hiện tư duy khoa học, khả năng khảo cứu công phu và ý thức trân trọng các giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến, ít có học giả nào để lại một khối lượng trước tác phong phú như ông. Theo các nguồn tư liệu lịch sử, Lê Quý Đôn đã biên soạn hơn 50 công trình thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch sử, địa lý, văn học, triết học, nông học, thư mục học, thiên văn, luật pháp, kinh tế và quân sự. Đúng như Giáo sư Sử học Văn Tân (Viện Sử học) từng nhận xét: “Lê Quý Đôn nắm được tất cả các tri thức mà con người Việt Nam thế kỷ XVIII có thể có được”[6; 5], và ví ông như “là cái thư viện sống của nước Việt Nam hồi thế kỷ XVIII” [7; 8]. Nhận định ấy không hề cường điệu. Điều đáng khâm phục là tri thức của Lê Quý Đôn không dừng lại ở việc sưu tầm hay sao chép, mà luôn gắn với tư duy hệ thống, tinh thần khảo cứu độc lập và khả năng tổng hợp, phân tích sâu sắc. Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu coi ông là nhà bách khoa thư đầu tiên của Việt Nam., dưới đây là những tác phẩm tiêu biểu:
Tư tưởng vượt tầm thời đại của Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử trước hết được thể hiện qua phương pháp luận sử học vô cùng khoa học và hiện đại. Đi trước thời gian rất lâu so với tư duy phong kiến đương thời, ông không chấp nhận việc sao chép sử liệu một cách mù quáng mà luôn tiến hành đối chiếu chéo, phê phán và kiểm tra nghiêm túc nhiều nguồn nguồn văn bản khác nhau. Tác giả dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, khách quan đánh giá công và tội của từng nhân vật lịch sử một cách toàn diện, không ngại phơi bày những sai lầm hay thất bại của vương triều cũ. Bên cạnh đó, tư duy đổi mới của ông còn nằm ở việc thay đổi đối tượng phản ánh của lịch sử. Thay vì chỉ tập trung ca tụng vua chúa và chuyện cung đình, Lê Quý Đôn đã đặt nhân dân làm gốc, khẳng định vai trò của các tướng lĩnh bình dân, đồng thời dành không gian trang trọng để ghi nhận đóng góp của phụ nữ và phục dựng bức tranh toàn cảnh về kinh tế, phong tục, bang giao xã hội. Tinh thần cứu chuộc tư liệu thất lạc từ văn bia, gia phả của ông không chỉ bảo tồn di sản văn hóa quý giá mà còn biến sử học thành một vũ khí văn hóa mạnh mẽ, thể hiện trách nhiệm lớn lao của một trí thức kiệt xuất đối với hậu thế và chủ quyền dân tộc.
Kiến văn tiểu lục ghi lại những điều ông đã đọc, đã nghe, đã quan sát và suy ngẫm. Tác phẩm chứa đựng nhiều tư liệu về lịch sử, địa lý, văn hóa, giáo dục, chế độ và con người Việt Nam. Đây không chỉ là kết quả của quá trình tích lũy tri thức mà còn phản ánh thái độ học tập chủ động, gắn việc đọc sách với quan sát thực tiễn. Trong Kiến văn tiểu lục, chúng ta thấy Lê Quý Đôn viết: “Nước Nam, hai triều đại nhà Lý, nhà Trần, có tiếng là văn minh”. Trong Quần thư khảo biện, tuy trọng tâm là khảo cứu triết học và tư tưởng, ông vẫn dẫn lại những tư liệu cho thấy triều Tống từng học hỏi cách tổ chức quân đội của Đại Việt, qua đó khẳng định những đóng góp của dân tộc trong lĩnh vực quân sự.
Vân đài loại ngữ là một bộ sách có tính chất bách khoa, trong đó tri thức được tập hợp, lựa chọn và sắp xếp theo từng lĩnh vực. Công trình cho thấy năng lực hệ thống hóa tri thức, tư duy khái quát và tầm hiểu biết sâu rộng của Lê Quý Đôn. Tương tự, trong Vân đài loại ngữ, ông nhiều lần nhắc đến việc triều Minh tiếp thu kỹ thuật chế tạo súng thần cơ do Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng phát triển, góp phần khẳng định trình độ khoa học - kỹ thuật của người Việt trong lịch sử. Không chỉ thể hiện tinh thần dân tộc qua trước tác, Lê Quý Đôn còn thể hiện bản lĩnh trên mặt trận ngoại giao.
Phủ biên tạp lục cung cấp nhiều tư liệu quý về vùng đất Thuận Hóa, Quảng Nam trên các phương diện lịch sử, địa lý, tổ chức hành chính, sản vật, kinh tế và đời sống xã hội. Tác phẩm thể hiện rõ phương pháp nghiên cứu gắn với điều tra, khảo sát thực tế và tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề của đất nước.
Đặc biệt, Phủ biên tạp lục không chỉ phản ánh toàn diện vùng Thuận Hóa - Quảng Nam cuối thế kỷ XVIII mà còn ghi chép rõ hoạt động quản lý của nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Những ghi chép ấy ngày nay tiếp tục là nguồn sử liệu có giá trị trong việc khẳng định chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Bên cạnh đó, những công trình như Bắc sứ thông lục, Toàn Việt thi lục, Quế Đường thi tập, Quân thư khảo biện… tiếp tục khẳng định tài năng và những đóng góp đa dạng của ông đối với nền học thuật dân tộc. Mỗi tác phẩm đều chứa đựng những giá trị tư liệu, học thuật và tư tưởng sâu sắc, góp phần làm giàu kho tàng văn hiến Việt Nam.
Toàn Việt thi lục, công trình sưu tầm gần 900 bài thơ chữ Hán từ thời Lý - Trần đến Lê sơ. Qua lời tựa của tập thơ này, ông khẳng định nước Việt có nền văn hiến rực rỡ, không hề thua kém phương Bắc. Với công trình này, Lê Quý Đôn còn là người có tư tưởng văn hóa tiến bộ. Trong các trước tác của mình, ông luôn đề cao truyền thống văn hiến dân tộc, khẳng định giá trị của nền văn hóa Việt Nam trên tinh thần bình đẳng với các nền văn minh khác. Ông nhiều lần phản bác những quan điểm sai lệch về lịch sử và văn hóa Việt Nam, đồng thời sử dụng chính các tư liệu của Trung Hoa để chứng minh truyền thống lâu đời, bản sắc độc lập của dân tộc. Đó là biểu hiện sinh động của lòng tự hào dân tộc, của bản lĩnh văn hóa và ý thức tự cường trong bối cảnh đất nước chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa phương Bắc
Điểm nổi bật trong trước tác của Lê Quý Đôn là sự kết hợp giữa tri thức sách vở với hiểu biết thực tế. Ông không tiếp nhận tri thức một cách thụ động mà luôn phân loại, đối chiếu, kiểm chứng và đưa ra nhận xét riêng. Đó là một phương pháp nghiên cứu tiến bộ, đến nay vẫn còn nhiều giá trị đối với hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học.
3. Phát huy di sản Lê Quý Đôn trong sự nghiệp giáo dục, phát triển quốc gia dân tộc
Tư tưởng của Lê Quý Đôn về vai trò của nhân tài vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Trong tư tưởng của Lê Quý Đôn, nhân tài có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Bồi dưỡng, sử dụng và trọng đãi người tài là điều kiện để xây dựng một bộ máy quản lý có năng lực, phát triển văn hóa, giáo dục và củng cố sức mạnh đất nước. Quan điểm ấy vẫn mang ý nghĩa thiết thực trong công cuộc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay.
Đảng và Nhà nước luôn xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng của sự phát triển đất nước. Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành nhằm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài, tạo điều kiện để người có năng lực được cống hiến cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Đảng luôn luôn có chủ trương về phát triển và trọng dụng nhân tài điển hình Đại hội XIII của Đảng (2021) đã xác định một trong ba đột phá chiến lược là “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nhân lực lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt”. Nghị quyết số 45-NQ/TW (2023) của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong giai đoạn mới nhấn mạnh việc “phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài, tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, cống hiến cho đất nước”.
Chính sách của Nhà nước luôn quan tâm đến giáo dục và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Luật Giáo dục năm 2019 quy định Nhà nước có chính sách phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng người học có năng khiếu và tài năng; tạo điều kiện phát triển nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 quy định các chính sách ưu đãi đối với nhà khoa học, chuyên gia giỏi, khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021-2030 xác định mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập quốc tế…
Tư tưởng của Lê Quý Đôn về vai trò của nhân tài còn thể hiện rõ trong chính sách ở các địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố đã ban hành chính sách riêng để thu hút nhân tài như Thành phố Hồ Chí Minh có chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt vào làm việc trong khu vực công. Đà Nẵng nhiều năm triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cấp học bổng đào tạo trong và ngoài nước, đồng thời thu hút người có trình độ cao về công tác. Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bình Dương... đều có cơ chế hỗ trợ tài chính, bố trí việc làm và tạo môi trường nghiên cứu, làm việc thuận lợi để thu hút nhân lực chất lượng cao…
Tư tưởng của Lê Qúy Đôn còn được các trường đại học áp dụng triển khai nhiều giải pháp nhằm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài như: Tuyển chọn sinh viên xuất sắc vào các chương trình đào tạo chất lượng cao; Thành lập các quỹ học bổng khuyến tài, học bổng nghiên cứu khoa học; Hợp tác với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu xã hội, tạo cơ hội việc làm cho sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp…
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn là hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học, ý thức trọng tri thức và quý trọng hiền tài trong thế hệ trẻ.
Trường Đại học Hải Dương nói riêng và các cơ sở giáo dục khác nói chung đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, phong phú như sinh hoạt chuyên đề, tọa đàm, hội thảo khoa học, giới thiệu sách, triển lãm, tham quan, trải nghiệm hoặc các cuộc thi tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tác phẩm của Lê Quý Đôn. Những giá trị trong tư tưởng và di sản của danh nhân cũng đã được các cơ sở giáo dục chú trọng lồng ghép vào các môn học và hoạt động giáo dục có liên quan.
Việc khai thác học liệu số, thư viện số, bảo tàng số và các nền tảng trực tuyến cần được tăng cường, giúp người học tiếp cận di sản của Lê Quý Đôn bằng những hình thức trực quan, sinh động. Giáo viên, giảng viên, học sinh và sinh viên cũng cần được khuyến khích tham gia nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, giới thiệu tác phẩm và vận dụng những giá trị trong di sản của ông vào học tập, giảng dạy và đời sống.
Mỗi cán bộ, nhà giáo, học sinh và sinh viên cần có trách nhiệm tiếp nhận, chia sẻ thông tin từ các nguồn chính thống; đồng thời chủ động nhận diện, phản bác những thông tin sai lệch, xuyên tạc về thân thế, sự nghiệp và di sản của Lê Quý Đôn. Tôn vinh danh nhân phải được đặt trên cơ sở hiểu biết đúng đắn, khách quan và khoa học.
Ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Lê Quý Đôn ra đời, nhưng những giá trị trong cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp của ông vẫn còn nguyên ý nghĩa. Đó là tinh thần yêu nước, thương dân; ý chí học tập suốt đời; thái độ coi trọng tri thức và nhân tài; phương pháp nghiên cứu nghiêm cẩn, khoa học; tư duy hệ thống và khát vọng mở rộng hiểu biết về con người, đất nước và thế giới.
Noi gương Lê Quý Đôn, mỗi học sinh, sinh viên cần xác định động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện tính tự học, chủ động tìm tòi và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Mỗi giáo viên, giảng viên cần không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và truyền cảm hứng học tập cho người học.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tưởng nhớ một nhà bác học lớn của dân tộc. Đây còn là cơ hội để mỗi người thêm trân trọng truyền thống văn hiến Việt Nam, nâng cao ý thức bảo tồn di sản và bồi đắp khát vọng học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, cống hiến cho cộng đồng.
Học tập tấm gương Lê Quý Đôn chính là biến lòng hiếu học thành hành động, biến tri thức thành năng lực và biến khát vọng thành những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
[2] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb Trẻ, 2026.
[3] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2021.
[4] Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Nxb Văn hóa, 1962.
[5] Trần Văn Giáp, Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
[6] Văn Tân, Lê Quý Đôn cuộc đời và sự nghiệp (bài viết kỷ niệm 250 năm ngày sinh danh nhân Lê Quý Đôn), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử 1976, số 4 (169).
[7] Văn Tân, Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 49 (4-1963).
[8] Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Danh nhân Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp, Sở Vă hóa Thể thao và Du lịch - Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, Thái Bình, 2016.
