1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chắt lọc, kế thừa, bổ sung và phát triển từ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; có giá trị trường tồn bởi mang bản chất khoa học và cách mạng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa lời nói và hành động; có giá trị và đóng góp to lớn đối với hòa bình, tiến bộ và phát triển của dân tộc và nhân loại. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đi tới thành công, mãi mãi trường tồn cùng dân tộc và thời đại. Để hoàn thành tốt các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH), một điều quan trọng là phải nhận thức, phát hiện, sử dụng, phát huy tất cả các động lực của CNXH. Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của CNXH được xây dựng trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam; là sự kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bối cảnh tình hình trong nước và thế giới hiện nay cho thấy, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của CNXH vẫn luôn có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng này được bắt đầu hình thành từ khi Nguyễn Ái Quốc phát hiện ra đường lối giải phóng dân tộc, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với CNXH. Từ đó, trong cuộc đời cách mạng phong phú vừa đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác- Lênin, vừa làm công tác thực tế, nhận thức của Hồ Chí Minh về CNXH ngày càng hoàn thiện, sáng tỏ hơn. Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam là trong quá trình nhận thức và chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận CNXH từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là từ: lập trường yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc; phương diện đạo đức; và từ truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Chính từ các cách tiếp cận này đã tạo nên bản sắc đặc thù về bản chất và mục tiêu của CNXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH có các điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, CNXH theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất về bản chất với lý luận của CNXH khoa học nhưng được Việt Nam hóa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; Thứ hai, tư tưởng của Người về CNXH lại rất phong phú và đa dạng; Thứ ba, CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới đó là CNXH thực tế, gần gũi với đời sống, vì con người, do con người và cho con người; Thứ tư, CNXH theo Người là dựa trên nền tảng lý luận Mác-Lênin, thấm nhuần truyền thống văn hóa dân tộc và kết tinh những giá trị nhân văn của văn hóa nhân loại [1, tr. 67].
Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về CNXH của Người cũng có một quá trình hình thành và phát triển hoàn thiện. CNXH ở Việt Nam, theo Người, đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, là xã hội dân giàu, nước mạnh; một xã hội luôn chăm lo đến lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của mỗi người; nơi kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với tập thể và lợi ích xã hội; nơi giải quyết thỏa đáng giữa cống hiến và hưởng thụ; nơi mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người; hạt nhân lãnh đạo của xã hội ấy là Đảng cộng sản - Đảng của giai cấp công nhân, theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng của Người về CNXH ngày càng được thể hiện rõ cả về lý luận và thực tiễn. Những điểm chung đó là: CNXH ở Việt Nam là một chế độ xã hội dân chủ, do nhân dân làm chủ; là xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; là xã hội dân giàu, nước mạnh, nền kinh tế phát triển cao với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức con người; là một xã hội được xây dựng theo nguyên tắc công bằng, hợp lý; là do quần chúng nhân dân tự xây dựng nên và dưới sự lãnh đạo của Đảng; là các dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
2.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tự bản chủ nghĩa (thời kỳ 1920-1945)
Trong tác phẩm Con đường dẫn tôi đến với chủ nghĩa Lênin (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [2, tr. 68]. Trước đó, vào các năm 1923-1924, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Vậy là, sau khi đọc Luận cương của Lênin, trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành nên quan điểm: cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “… tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa nên chủ trương làm tư bản dân quyền C.M và thổ địa C.M để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy, theo Người, mục tiêu cao nhất của con đường cách mạng vô sản là “đi tới xã hội cộng sản”.
2.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam (thời kỳ 1945-1954)
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành quả lớn nhất của cuộc cách mạng Tháng Tám là tuyên bố sự ra đời của chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ nhân dân: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới”. Tuy nhiên, khi khẳng định Cách mạng Tháng Tám khai sinh chế độ dân chủ nhân dân thì một vấn đề nảy sinh: Mục tiêu tổng quát của cuộc cách mạng mà toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định một cách rõ ràng là “chế độ cộng sản”, là “xã hội cộng sản”, vậy tại sao sau khi cách mạng thành công lại không bắt tay thực hiện ngay mục tiêu ấy mà lại phải trải qua xây dựng chế độ dân chủ nhân dân?. Từ 1945, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân, đặc biệt là về phương diện chế độ chính trị. Trong những năm 1954-1955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ” hay “nước ta là nước dân chủ”. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời và tồn tại hiện thực. Với chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Thứ nhất, mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” là mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam, song ở trình độ phát triển của xã hội Việt Nam, chế độ xã hội có thể thực hiện được mục tiêu ấy trước hết phải là chế độ dân chủ nhân dân.
Thứ hai, ở Việt Nam, những mầm mống của chế độ XHCN và cộng sản chủ nghĩa sẽ nảy sinh và phát triển trong lòng chế độ dân chủ nhân dân. Khi nói về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Tiến thẳng hiểu theo nghĩa là không phải “Kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, song để tiến tới CNXH, chúng ta nhất định phải “kinh qua” một thời kỳ phát triển, đó là chế độ dân chủ nhân dân. Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là quá trình từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến mà còn là quá trình từng bước để các mầm mống của CNXH phát triển. Rõ ràng, đối với Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là một tất yếu lịch sử trên con đường đi lên CNXH ở Việt Nam [3, tr. 54].
2.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (thời kỳ 1954-1969)
Sau năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ khi kháng chiến thắng lợi và hòa bình lập lại, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới. Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng dưới chế độ dân chủ nhân dân đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH”. Đây là thời kỳ Người trực tiếp bàn nhiều về vấn đề quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một tất yếu. Tính tất yếu của việc lựa chọn định hướng XHCN và quá độ lên CNXH được Hồ Chí Minh luận giải trên mấy phương diện sau:
Thứ nhất, CNXH và chủ nghĩa cộng sản là tương lai của xã hội loài người. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ XHCN và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”.
Thứ hai, CNXH là sự lựa chọn tích cực, là nhân sinh quan của chủ thể hành động - những người cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thông thái và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang. Trừ những bọn phản động quá sá thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản”.
Thứ ba, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, thời đại quá độ lên CNXH đã trở thành xu thế phát triển của lịch sử không thể đảo ngược. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Những thắng lợi bước đầu trong công cuộc xây dựng CNXH cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả năng của một nước như nước Việt Nam tiến lên CNXH một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa” [4, tr. 39].
Trên cơ sở nhận thức quy luật chung của lịch sử nhân loại và đặc điểm riêng của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến CNXH (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Về thời kỳ quá độ, Người nói: “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển. Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng”.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa được Người trình bày một cách khái quát nhất trong Diễn văn khái mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc. Thay lời kết, xin trích ý kiến của Người: “Ở miền Bắc, chúng ta đang ở trong giai đoạn quá độ lên CNXH. Cuộc cách mạng XHCN là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp. Chúng ta phải dần dần tập thể hóa nông nghiệp. Chúng ta phải tiến hành cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc. Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng” [5, tr. 67].
2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với những mục tiêu chiến lược đã đặt ra thì việc xác định đúng những động lực cơ bản có ý nghĩa rất quan trọng. Do vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất”. Quan điểm nhất quán này là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới, được thể hiện cụ thể ở một số nội dung cơ bản sau:
2.3.1. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc
Hiện nay, bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đặt ra yêu cầu mới phức tạp hơn, thách thức hơn đối với sự nghiệp xây dựng CNXH. Điều này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng, đổi mới mạnh mẽ, năng động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu cao nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Phải tiếp tục “Xây dựng, phát triển, tạo môi trường thuận lợi nhất để khơi dậy tuyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch hành động phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; của mỗi cán bộ, đảng viên, của con người Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ XIII, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đảng kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới: khẳng định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước. Để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thì từ chủ trương, chính sách cho đến xử lý, giải quyết công việc hàng ngày, phải vì lợi ích của người dân, xuất phát từ nguyện vọng và yêu cầu của Nhân dân; giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”.
2.3.2. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Với nội dung này, so với Đại hội XII thì văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng bổ sung thêm cụm từ “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo” và đặt lên trên để nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo. Đó là việc tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Do vậy, cần “Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển con người làm mục tiêu. Gắn hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Xác định rõ trọng tâm hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ trong thời gian tới là “đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đa dạng hóa đối tác, lựa chọn đối tác chiến lược là các quốc gia có nền khoa học, công nghệ tiên tiến” [6, tr. 645].
2.3.3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất
Đảng chỉ rõ: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”. Với quan điểm này, Đảng nhấn mạnh đến yếu tố “sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc” chứ không chỉ “sức mạnh dân tộc”. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố nội lực - trong nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và nguồn lực vật chất, tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, không phải là sự cộng lại cơ học của các yếu tố cấu thành “sức mạnh dân tộc”. Phát huy tối đa nội lực nhưng phải tranh thủ ngoại lực, đó là việc “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”, với tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” [7, tr. 78]. Đây chính là sự quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Kế thừa và phát triển những nội dung cốt lõi về vấn đề con người - nguồn lực quan trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của CNXH, Đại hội XIII của Đảng đã khái quát và đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước. Đại hội chỉ rõ: “Tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”. Trong đó, Đại hội nêu bật chủ trương về phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đồng thời, Đại hội XIII nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới là: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế”.
3. KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của CNXH đã được minh chứng qua thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng này nhấn mạnh việc khơi dậy sức mạnh tổng hợp, trong đó con người là trung tâm, đại đoàn kết toàn dân là cốt lõi và sự lãnh đạo của Đảng là quyết định. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh qua việc phát huy sức mạnh nhân dân, đổi mới kinh tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại. Việc xác định đúng động lực cơ bản không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với những mục tiêu chiến lược mà còn đảm bảo cho sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực CNXH luôn soi sáng con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam, trở thành cơ sở lý luận quan trọng để Đảng hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng CNXH. Trong bối cảnh mới hiện nay với nhiều khó khăn, phức tạp, tư tưởng đó vẫn vẹn nguyên giá trị, củng cố thêm niềm tin vững chắc vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm thực hiện khát vọng phát triển một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập 1). NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 2, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 4, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 7, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 8, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 9, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[7] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 10, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
[8] Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
