Một số biện pháp khắc phục khó khăn của trẻ tự kỉ trong lớp hòa nhập
25/08/2026

1. Đặt vấn đề

Giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó trẻ khuyết tật (bao gồm trẻ tự kỉ) được học cùng trẻ bình thường trong trường bình thường. Bản chất của giáo dục hoà nhập là mọi trẻ em đều được học trong môi trường giáo dục mà trong đó trẻ có điều kiện và cơ hội để lĩnh hội kiến thức theo nhu cầu và khả năng của mình.

Không phải trẻ tự kỉ nào cũng phù hợp với môi trường giáo dục hòa nhập song có điều chắc chắn rằng trẻ tự kỉ được tham gia vào giáo dục hòa nhập là niềm mơ ước của các em và cha mẹ. Giấc mơ đó không chỉ xuất phát từ cảm giác con mình được nhìn nhận như những trẻ bình thường khác mà còn xuất phát từ  ưu điểm mà giáo dục hòa nhập mang lại cho trẻ:

- Mô hình giáo dục hoà nhập phát huy tối đa quan điểm bình thường hoá hoạt động giáo dục trẻ tự kỉ trên nhiều phương diện (chương trình giáo dục, đối tượng tương tác là các trẻ bình thường cùng độ tuổi...); 

- Sự thành công trong môi trường giáo dục hoà nhập của trẻ tự kỉ giúp các em gần với cơ hội hoà nhập ở các môi trường khác; 

- Việc tiếp cận với các lớp học hoà nhập với trẻ tự kỉ cũng thuận lợi hơn về mặt địa lý và bản thân gia đình các em cũng được giảm các áp lực về tâm lý, tài chính... 

Mô hình giáo dục hoà nhập phát huy tối đa quan điểm bình thường hoá hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, Môi trường lớp học với những hướng dẫn chung, những nguyên tắc cơ bản và cả những tương tác thường xuyên có thể khiến trẻ tự kỉ gặp khó khăn. Điều mà giáo viên cần nhất là nhận diện và giải thích được những khó khăn của trẻ để có biện pháp hỗ trợ phù hợp nhất cho các em.

Từ khóa: Trẻ tự kỉ, giáo dục hòa nhập

2. Những khó khăn của trẻ tự kỉ trong lớp hòa nhập 

Qua tổng kết của các giáo viên nhiều kinh nghiệm làm việc với trẻ tự kỉ, khi tham gia lớp hoà nhập, trẻ gặp một số khó khăn điển hình như sau

- Không thích chơi hoặc không biết chơi với bạn khác; không quan tâm và không có cách ứng xử phù hợp với các mối quan hệ xung quanh (thầy cô, bạn bè)

- Khó khăn trong việc hiểu khái niệm thời gian, không gian khi thực hiện hoạt động

- Thích làm việc tự do và chỉ thích một số công việc quen thuộc

- Tính tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập kém

- Khó khăn trong việc xác định trình tự công việc.

- Cảm thấy không thoải mái, lo lắng hoặc giận dữ khi không biết thứ tự các sự việc

- Cảm thấy không thoải mái, lo lắng hoặc giận dữ khi không biết phải làm gì và làm như thế nào hoặc khi được giao nhiệm vụ mới

- Khó khăn trong việc thể hiện ý kiến của bản thân bằng giao tiếp có lời và giao tiếp không lời.

- Khó khăn trong việc thực hiện nội qui tại lớp học

- Có thể có hành vi bất thường làm ảnh hưởng đến bản thân và hoạt động của lớp

- Khả năng tiếp thu các kiến thức, kĩ năng học đường khó khăn đặc biệt là những kiến thức, kĩ năng đòi hỏi khả năng ngôn ngữ và tư duy trừu tượng 

3. Biện pháp khắc phục khó khăn của trẻ tự kỉ trong lớp hòa nhập

Bằng kinh nghiệm làm việc với trẻ tự kỉ và tùy vào mỗi trẻ mà giáo viên có thể sử dụng các biện pháp khác nhau giúp trẻ khắc phục những khó khăn. Dưới đây là những biện pháp cơ bản nhất mà giáo viên có thể sử dụng cho đa số trẻ:

3.1. Sử dụng sở thích của trẻ ( đồ vật hoặc hoạt động mà trẻ ưa thích) để làm phần thưởng.

Trẻ tự kỷ thường thích chơi các đồ chơi có thể xếp thành hàng hoặc chồng khối, các đồ chơi thả khối hộp, xoay tròn hoặc vỗ các đồ vật. Trẻ thường dành nhiều thời gian cho các trò chơi có thao tác đơn giản (xếp, quay, vẫy tay) hơn các đồ chơi chức năng và tưởng tượng (chơi giả vờ nấu ăn, bác sĩ). Một số trẻ có xu hướng gắn bó bất thường với đồ vật trẻ yêu thích. Sử dụng sở thích của trẻ như phần thưởng  sẽ khuyến khích trẻ thực hiện hoạt động mà trẻ không thích và cố gắng làm quen với những hoạt động mới. Các phần thưởng được sử dụng cho rất nhiều hoạt động nhưng phải xem xét: phần thưởng đó có tác dụng với trẻ không? Trẻ có thích phần thưởng này không? Liệu trẻ sẽ điều chỉnh, thay đổi hành vi để có được phần thưởng đó không? Phần thưởng có thể dùng cho cá nhân hay nhóm?

3.2.  Giải thích rõ việc thực hiện nhiệm vụ (điểm bắt đầu và kết thúc): các ví dụ về dấu hiệu chỉ rõ điểm bắt đầu và điểm kết thúc chính xác của từng nhiệm vụ như đặt đồng hồ hẹn giờ, đánh dấu trên mặt số đồng hồ, dùng hai rổ “Bắt đầu - Kết thúc”, dùng bảng màu (Xanh = Bắt đầu; Đỏ = Kết thúc), đánh dấu bằng thẻ hình mũi tên (→), dấu chân, đường kẻ, báo trước khoảng thời gian tiến hành hoạt động và liên tục thông báo lượng thời gian đã sử dụng và số thời gian còn lại.

3.3. Xây dựng lịch biểu bằng hình ảnh một cách rõ ràng: Sử dụng lịch trình các hoạt động trong ngày và các bước trong một nhiệm vụ, đối với những trẻ có thể đọc được, có thể làm lịch trình bằng chữ viết, đối với những trẻ không thể đọc được hoặc vừa mới học đọc thì có thể làm lịch trình bằng hình ảnh. Những bức ảnh rất đơn giản nhưng lại rất cần thiết vì trẻ có thể nhanh chóng và dễ dàng nhớ được hình ảnh nào tượng trưng cho hoạt động nào.

3.4. Cho trẻ hoạt động nhiều chủ đề trẻ có hứng thú: Khi đặt ra những nhiệm vụ mới, hãy sử dụng nội dung mà trẻ quan tâm và thấy thích thú điều này giúp trẻ có thêm động lực cho việc tiếp thu những điều mới và khó. Chẳng hạn, một trẻ thích ôtô đồ chơi, có thể sẽ rất hào hứng trong hoạt động “Đếm ôtô”, một trẻ khác có thể tiếp thu kiến thức tốt nếu giáo viên khéo léo liên hệ với sở thích về các con số và chữ cái của trẻ.

3.5. Sử dụng qui trình nhất quán nhưng không nên duy trì quá lâu: liên tục làm phong phú các quy trình, lộ trình và nhiệm vụ để các em không cảm thấy quá bị mắc kẹt với một cách làm duy nhất, cản trở trẻ với hình thức học mới. Đổi mới các lộ trình vài tuần một lần và đừng để các em làm một nhiệm vụ giống nhau liên tục quá nhiều lần. Khi các em có thể làm được một cách, dần dần giới thiệu những cách mới cho các em.

3.6. Dành thời gian và không gian hợp lí để trẻ hoạt động theo nhu cầu và hứng thú. Các trẻ tự kỉ thường thích thực hiện các hoạt động một mình và đôi khi sẽ thấy buồn nếu phải làm cùng với các trẻ khác. Nếu có thể, hãy tạo một khoảng không gian trong lớp học mà chỉ dành riêng cho em đó trong suốt những giờ thực hiện hoạt động học tập quan trọng. Phía cuối phòng học thường là nơi tốt nhất để thực hiện điều này. Hãy để các lịch trình hoạt động của em đó (có thể bằng tranh ảnh) ở khu vực này và giúp em đó tự mình tổ chức không gian của riêng mình.

3.7. Nên tổ chức cho trẻ hoạt động liên tục không để thời gian trống: chuẩn bị công việc độc lập cho trẻ tự kỉ để các em không bao giờ cảm thấy có thời gian trống. Việc này không khó vì trẻ sẽ cảm thấy rất vui khi lặp lại những nhiệm vụ đó và GV cũng không cần phải chuẩn bị một số lượng tài liệu nhiều trong một ngày. Chẳng hạn: GV chuẩn bị sẵn một số tranh để tô màu hoặc vở tập tô cho trẻ làm trong những giờ trống.

3.8. Sử dụng các phương tiện trực quan (hình ảnh) trong giao tiếp và khi hướng dẫn trẻ thực hiện nhiệm vụ: sử dụng hình ảnh trực quan thay vì chỉ giải thích bằng lời. Hãy nhớ rằng, trẻ tự kỉ dường như không có khả năng chú ý và tập trung vào những cuộc trao đổi bằng lời nói. Tạo nên những tấm thẻ có nội dung giao tiếp và truyền đạt để sử dụng cùng với trẻ và để trẻ không phải lúc nào cũng lệ thuộc vào những giao tiếp bằng ngôn ngữ nói. Các tấm thẻ có nội dung giao tiếp và truyền đạt có thể chỉ là những lời hướng dẫn hoặc là những bức tranh nhưng có tính hướng dẫn và giao tiếp.

3.9.  Khi yêu cầu trẻ thực hiện nhiệm vụ, hãy sử dụng cách thể hiện tích cực: khi đặt ra những nhiệm vụ hoặc nói với trẻ những việc phải làm, hãy sử dụng những cách thể hiện có tính tích cực. Đừng nói với trẻ những việc các em không nên làm. Hãy nói với trẻ những việc mà các em nên làm và cần làm.

3.10. Động viên khen thưởng kịp thời: khen thưởng cần cụ thể, bất ngờ, tức thì và chân thành. Ví dụ: “An, nét chữ ‘A’ con viết trơn đều, hướng đưa bút đúng, điểm đầu và điểm cuối đã đặt đúng vị trí. Con viết tốt lắm!” Hình thức khen thưởng rất đa dạng, tùy điều kiện cụ thể của lớp học mà sử dụng, lưu ý đến sở thích của trẻ.

4. Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Nữ Tâm An (2013), Biện pháp dạy học đọc hiểu cho học sinh rối loạn phổ tự kỉ đầu cấp tiểu học, luận án tiến sĩ, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
2. Ellen Notbohm (2010), Mười điều trẻ tự kỉ muốn bạn biết, Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh 
3. Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Tự kỉ - phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nxb Y Học
4. Lê Khanh (2004), Tự kỉ - những thiên thần bất hạnh, Nxb Phụ nữ
5. Lê Khanh (2010), Phòng tránh và can thiệp sớm rối nhiễu tâm lý trẻ em, Nxb Phụ nữ
6. Rich Frost (2008), Một số kĩ năng dạy học hòa nhập cho trẻ tự kỉ, Nxb Hà Nội
7. Nguyễn Văn Thành (2006), Trẻ tự kỉ - phương thức giáo dục, Nxb Tôn giáo
8. Phạm Toàn & Lâm Hiếu Bình (2014), Thấu hiểu & hỗ trợ trẻ tự kỉ, Nxb Trẻ

Tin mới hơn
Tin cũ hơn